Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp 2014

Được sự chỉ đạo của VCCI, sáng nay (7/1/2014), Báo Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Hội Kế toán kiểm toán Việt Nam (VAA), Viện nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp (INBUS) tổ chức “Diễn đàn: Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp 2014”.

Toàn cảnh Diễn đàn: Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp 2014

Tại chương trình, các diễn ra đã trình bày những tham luận cụ thể như: Động thái doanh nghiệp 2013 và dự cảm 2014; Cơ hội kinh doanh nhìn từ kinh tế 2014: Tư duy và hành động; Những khó khăn, thách thức mà Doanh nghiệp đang và sẽ trải qua; Những chương trình hỗ trợ Doanh nghiệp trong thời gian tới; Kinh tế thế giới 2013 – 2014: Những điểm cần lưu ý trong quản trị tài chính doanh nghiệp.

Các diễn giả tại diễn đàn

Cũng tại Diễn đàn, Ban tổ chức đã công bố Danh sách đánh giá năng lực hoạt động tài chính Doanh nghiệp 2013 nằm trong khuôn khổ chương trình “Đánh giá năng lực hoạt động doanh nghiệp thường niên – Chủ đề 2013: Năng lực tài chính”. Chương trình lựa chọn từ hơn 2.000 báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đại chúng đã kiểm toán và công bố trên các sàn niêm yết. Qua đó, gần 500 doanh nghiệp thông các phương pháp đánh giá, phân tích các chỉ số hoạt động tài chính đã được chọn lựa để đánh giá và xếp hạng năng lực hoạt động tài chính.

Chương trình được tường thuật trực tuyến trên Báo Diễn đàn Doanh nghiệp Online tại địa chỉ:www.dddn.com.vn.

Đúng 9h00 chương trình bắt đầu.

Tham dự chương trình có bà Phạm Thị Thu Hằng – Tổng Thư ký VCCI; PGS.TS Đặng Văn Thanh – Chủ tịch Hội Kế toán, kiểm toán Việt Nam; PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân – Viện trưởng viện nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp thuộc Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội; Ông Nguyễn Trường Sơn – Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam; Bà Phan Việt Nga – Phó Chủ tịch chuyên trách kiêm tổng thư ký Hội các nhà Quản trị Doanh nghiệp Việt Nam; Ông Phạm Ngọc Tuấn – Tổng Biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp.

Về phía diễn giả có TS Võ Trí Thành – Phó Viện Trưởng viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương; Ông Nguyễn Trọng Hiệu – Cục phó Cục phát triển Doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Ông Nguyễn Đại Lai – Chuyên gia kinh tế; Ông Doãn Thắng – Tổng Thư ký Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam; Bà Nguyễn Thị Hạnh Phúc – Giám đốc toàn quốc Khối khách hàng doanh nghiệp Bộ phận vốn và tiền tệ HSBC Việt Nam.

Động thái và dự cảm

Phát biểu khai mạc diễn đàn, bà Phạm Thị Thu Hằng – Tổng thư ký VCCI cho biết: Trong tháng 11 – 12/2013, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiến hành khảo sát nhanh động thái doanh nghiệp Việt Nam năm trên quy mô toàn quốc để đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp về tình hình sản xuất kinh doanh trong năm 2013 và dự cảm cho năm 2014. Đây là lần thứ 7, VCCI công bố chỉ số này.

Bà Phạm Thị Thu Hằng – Tổng thư ký VCCI phát biểu khai mạc

Kết quả cho thấy, tình hình sản xuất kinh doanh của DN năm 2013 có dấu hiệu được cải thiện. Chỉ số động thái tổng hợp của tổng thể tình hình sản xuất kinh doanh thực thấy năm 2013 cao hơn nhiều so với cuối năm 2012. Doanh số bán hàng có sự đột biến mạnh, cùng với đó là sự cải thiện năng suất lao động. Tổng doanh số năm 2013 có xu hướng được cải thiện so với năm 2012, tuy nhiên mức cải thiện chưa đáng kể. Trong khi đó, giá bán bình quân năm 2013 giảm so với năm 2012.

Một điểm đáng chú ý khác là số lượng nhân công tại các DN trong năm 2013 đã giảm so với năm 2012. Trong đó, nguyên nhân chính là do kinh tế khó khăn, tình trạng đình đốn sản xuất dẫn đến nhu cầu tuyển dụng lao động ở một số ngành giảm. Tương tự, tiếp cận vốn vay năm 2013 khó hơn năm 2012. Mặc dù lãi suất mặc dù đã giảm từ 2%-3% so với cuối năm 2012, nhưng vẫn ở cao so với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng vấp phải rào cản về thủ tục vay vốn và các điều kiện được vay vốn làm hạn chế khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp…

Bà Hằng cho biết: Trong năm 2014, hầu hết các doanh nghiệp dự cảm rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ khởi sắc hơn. Cụ thể: Giá bán bình quân được các doanh nghiệp dự cảm trong năm 2014 sẽ có xu hướng tăng lên so với năm 2013. Doanh nghiệp dự cảm lợi nhuận bình quân tiếp tục giảm vào năm 2014, mặc dù xu thế giảm này được dự đoán là ở tốc độ chậm hơn.

Hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị cũng được đánh giá là sẽ tốt hơn rất nhiều so với năm 2013. Một trong những nguyên nhân doanh nghiệp dự cảm sự cải thiện này có thể là do trong thời gian qua các doanh nghiệp đã đẩy mạnh thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nên doanh nghiệp dự đoán rằng mọi nguồn lực trong doanh nghiệp sẽ được sử dụng hiệu quả hơn.

Các doanh nghiệp dự cảm số lượng công nhân viên sẽ tăng lên trong năm 2014. Sự lạc quan trong những dự cảm về tuyển dụng lao động cho thấy các doanh nghiệp đang kỳ vọng vào những điều kiện kinh doanh tốt hơn, cố sức để cùng xã hội giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Tương tự, các doanh nghiệp dự cảm vào năm 2014 lượng đơn đặt hàng sẽ tăng lên so với năm 2013.

Các yếu tố về tiếp cận thông tin thị trường công nghệ, điều kiện hạ tầng tiện ích và điều kiện giao thông được cải thiện vào năm 2013 và tiếp tục được doanh nghiệp dự cảm cải thiện trong năm tới.

Đề cập về nội dung Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 -2020, phần lớn các doanh nghiệp (64,6%) đã nhận thức được việc tăng giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh sản phẩm là những mục tiêu quan trọng trong chiến lược. Tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá bán một đơn vị sản phẩm tại doanh nghiệp thuộc diện khảo sát ước trung bình là 19,5%. Chỉ số này dao động, thấp nhất là 0,05% và cao nhất là 85%.

Tìm cơ hội trong rủi ro
Trong phần trình bày của mình, TS.Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho biết thế giới hiện đang phục hồi rất chậm. Theo dự báo đến năm 2017, tăng trưởng thế giới sẽ ở khoảng 5,2%. Đằng sau sự phục hồi chậm chạm ấy là rủi ro rất lớn, tính bất định cao. Các rủi ro ấy đang dịch chuyển sang các nước mới nổi như Ấn Độ, Malaysia… Với tất cả những khó khăn ấy, hiện nay thế giới đang phải nỗ lực cải cách.

TS.Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Tại Việt Nam, đầu cơ vẫn phải tính đến trong giai đoạn ngắn hạn khi thị trường còn rất rủi ro và méo mó. Chính phủ dù không thể còn gói kích cầu như 2009, thì vẫn đang tìm mọi cách hỗ trợ doanh nghiệp, dù nhỏ, dù lớn. Và, với bản thân từng doanh nghiệp, trong khi “chơi” với ngắn hạn, phải biết nắm bắt xu thế thế giới nói chung và trong nước nói riêng đang diễn ra.
Trong hai năm qua (2012, 2013) doanh nghiệp rất khó khăn, do chúng ta chuyển từ chính sách tiền tệ sang chính sách thắt chặt tiền tệ. Nhiều khi khó khăn sẽ tạo cơ hội kinh doanh sẽ nhỏ, lẻ nhưng tiếp cận cơ hội kinh doanh cũng rất khó, đặc biệt khi chịu khó khăn về vốn. Năm 2014, kể cả có tăng trưởng kinh tế 5,8% theo dự báo Chính phủ thì cũng chỉ mới là nhúc nhích đi lên. Nợ xấu vẫn còn đó và khó khăn còn tồn tại rất nhiều.

Nếu nói về cơ hội kinh doanh thì phải xem xét tới tổng cầu tiêu dùng. Năm 2014 theo dự báo mức tăng tiêu dùng của nền kinh tế cũng sẽ không tăng. Trong những mặt hang tiêu dùng giảm xuống thì có những tiêu dùng không giảm. Vì vậy, doanh nghiệp chuyển sang tiêu dùng biết lựa chọn thì vẫn có những bước phát triển.

Về đầu tư năm tới sẽ giảm rất mạnh. Chính phủ với tất cả sức bình sinh đã đề ra nhiều phương hướng hỗ trợ, trong đó tăng phát hành trái phiếu Chính phủ nhưng mức đầu tư cũng không thể dồi dào thêm được. Theo tính toán của chúng tôi, phát hành trái phiếu Chính phủ thì sự lan tỏa chưa nhiều. Vậy có gì hy vọng ở sự đầu tư này, đó chính là đầu tư ngoài nhà nước.

Về thị trường xuất khẩu: Mỹ, EU tốt lên một chút và thị trường này đang được nhìn nhận từ những cơ hội giao thương, các hiệp định TPP… Một thị trường nữa cũng có sức ảnh hưởng rất lớn tới Việt Nam đó là thị trường Trung quốc và đây cũng là cơ hội nếu chúng ta biết nắm bắt.

Về lãi suất, với câu chuyện này rõ rang muốn Chính phủ hỗ trợ nữa cũng sẽ rất khó. Bởi, thị trường này còn phụ thuộc rất nhiều vào mức độ lạm phát, vào mức hấp dẫn của lãi suất suất phát hành trái phiếu Chính phủ, và phụ thuộc vào đồng USD sẽ lên giá.

Nhìn về dài hạn Việt Nam sẽ hội nhập sâu vào thị trường thế giới, nên tất cả các tính toán đều phải mang tính tương đối. Đầu tư nước ngoài vào nhiều lĩnh vực tại Việt Nam còn rất lớn. Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể “ăn theo”, học hỏi rất nhiều từ cách quản lý, kinh doanh và sử dụng nhân lực của các doanh nghiệp nước ngoài. Việc cải cách và tái cấu trúc sẽ khiến nguồn tiền lớn từ nhà nước sẽ chuyển dần sang tay tư nhân. Mặt khác, cải tổ đầu tư công, phân bổ nguồn lực, phân cấp địa phương trung ương sẽ khác. Tốc độ đi liền với mạng. Người tiêu dùng cuối cùng đang quyết định bởi tầng lớp trung lưu ngày càng lớn.

Nhiều khó khăn, thách thức

Nói về những khó khăn, thách thức mà doanh nghiệp đang và sẽ trải qua, ông Nguyễn Trường Sơn – Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam cho biết: Năm 2014, khó khăn, thách thức của cộng đồng doanh nghiệp vẫn nhiều hơn các yếu tố thuận lợi. Với nhóm các doanh nghiệp đã và đang sử dụng đòn bẩy tài chính cao, nhóm sử dụng đòn bẩy tài chính thấp, nhóm mới thành lập hay nhóm tái hoạt động cũng có những khó khăn thách thức khác nhau.

Theo ông Sơn, để một ngành tại Việt Nam có năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế đòi hỏi rất nhiều nguồn lực và thời gian hàng chục năm. Điều này thường được thể hiện trong các văn bản mang tính chiến lược của các Quốc gia. Các chính sách mang tính điều tiết định hướng cho từng cú huých cần phải gắn đầu tư công và ngân sách hàng năm, hàng quý. Do đó, khi xem xét các nội dung này không chỉ nhìn chung là hướng đi tốt mà cần xem xét khả năng hoàn thành các tiêu chí cho lộ trình.

Ông Nguyễn Trường Sơn – Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam

Về môi trường kinh tế vĩ mô, các yếu tố như tốc độ tăng trưởng, lạm phát, chính sách tài khóa, tiền tệ … hay được nhắc đến. Những tiêu chí lượng hóa cho mô hình phát triển, năng lực cạnh tranh từng lĩnh vực ngành nghề, dòng vốn của xã hội… lại ít được nhắc tới. Tuy nhiên, bài học mới nhất về sụt giảm giá bất động sản và chứng khoán thì lại xuất phát từ những yếu tố ít nhắc tới này. Dòng vốn trong xã hội đã chảy về hai thị trường này một cách thái quá. Thử nhìn xem chúng ta đang có công cụ hữu hiệu nào có thể điều tiết chỉ số giá chứng khoán và bất động sản tránh khỏi vòng xoáy bong bong giá những năm tới đây. Đất nước càng khó khăn càng cần có tích lũy và đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Người dân chỉ tự nguyện bỏ tiền vào thị trường chứng khoán khi thấy được sự tăng trưởng ổn định. Có thể tăng chậm, tăng ít nhưng niềm tin của người dân sẽ tạo nên dòng vốn rất tốt cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiêp thông qua thị trường chứng khoán. Mặt khác khi có sự trồi sụt quá lớn thì đa số sẽ không tham gia mà tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu cơ. Đầu cơ lớn sẽ kéo theo hệ lụy rủi ro cao và hút mất nguồn tín dụng đáng lẽ là của những hoạt động sản xuất kinh doanh khác.

Ngày 01/01/2014 Luật thuế thu nhập mới sửa đổi đã có hiệu lực. Những điều chỉnh lần này có tính sâu sát hơn với hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiêp có mức doanh thu không quá 20 tỷ năm trước liền kề sẽ chịu thuế suất 20%. Mức thuế cho ngành nghề khai thác tài nguyên cũng có mức thay đổi tăng lên. Tuy nhiên để có sự cạnh tranh để dòng vốn, dòng đầu tư chảy về Việt Nam thì mức này chưa đủ sức hấp dẫn mạnh mẽ. Cộng đồng doanh nghiệp mong muốn tiếp tục có sự điều chỉnh giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 15%. Duy trì và phát triển nguồn thu ngân sách sẽ tập trung sang thuế đánh vào tiêu dùng (VAT), thuế tài nguyên và thuế tiêu thụ đặc biệt. Và phải làm sao để thuế tiêu thụ đặc biệt là một công cụ quan trọng trong điều tiết thị trường tiêu dùng, lãng phí.

Về thị trường nội địa, ông Sơn khẳng định: Doanh nghiệp đang và sẽ phát huy lợi thế thị trường tiêu thụ nội địa. Với lợi thế là quốc gia có dân số đứng thứ 14 trên thế giới, cơ cấu trẻ, độ tuổi lao động chiếm tỷ trọng cao, những nhu cầu tiêu dùng thiết yếu vẫn diễn ra hàng ngày bất luận tình hình kinh tế ra sao. Vấn đề ở đây là doanh nghiệp Việt cung ứng được bao nhiêu phần trăm trong tổng cầu ấy. Những năm qua có rất nhiều nỗ lực từ phía Doanh nghiệp nhưng đa số gục ngã trước các tập đoàn lớn trên thế giới. Họ sẵn sàng lỗ kế hoạch trong một thời gian để các Doanh nghiệp Việt không chịu được, tự rút lui; Họ sẵn sàng chi, lách luật chi cho tuyên truyền quảng cáo … nhiều hơn Doanh nghiệp Việt rất nhiều để thương hiệu chiếm lĩnh thị trường. Từ đó có thể làm cho Họ lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền để tăng giá, sinh lời.

“Nếu chúng ta chỉ nhắm tới các cú huých từ ngân sách để tăng tổng cầu thì sẽ không hữu hiệu bằng các biện pháp có tính đồng bộ như: Xem xét kỹ các doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm Luật cạnh tranh; Các doanh nghiệp Việt đáp ứng tốt hơn về chất lượng giá cả của các nhu cầu thiết yếu, tiêu dùng trong nước; Không chỉ là tuyên truyền, quảng bá, vận động “người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” mà cần có quyết sách cụ thể. Ví dụ : Chính phủ ban hành danh mục các mặt hàng sản phẩm có thể nhập khẩu “để số còn lại phải sử dụng “hàng Việt” khi dùng ngân sách” – ông Sơn nói.

Về xuất khẩu, có một thực tế rất rõ ràng, đó là: Trung Quốc là nước đang phát triển, đông dân số nhất thế giới, nền kinh tế đứng thứ hai sau Mỹ, nhu cầu tiêu dùng đa dạng. Việt Nam là quốc gia có chung biên giới và nhập siêu từ Trung Quốc rất cao. Đây vừa là thách thức vừa là cơ hội để chúng ta xây dựng và thực hiện chiến lược xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc. Chiến lược này từng bước khẳng định vị thế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt trên trường quốc tế.

Hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng đang hình thành, cơ hội giao thương càng mở ra. Điều tất yếu nếu chúng ta không xuất khẩu vào Họ nhiều thì chúng ta sẽ phải tiêu dùng sản phẩm của họ nhiều. Có thể phải mất nhiều năm, chúng ta muốn xuất khẩu được thì phải có sự chuẩn bị, tập trung, phải có chiến lược tốt. Hiện nay đứng trước nhiều khó khăn nên các doanh nghiệp Việt chưa mấy sẵn sàng tham gia lĩnh vực này. Sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp có giá trị chế biến sâu chứ không phải xuất khẩu thô khi giao thương với thị trường phía tây, nam Trung Quốc. Tính thời điểm quyết định rất nhiều cho chiến lược và mô hình tăng trưởng. “Tôi hoàn toàn tin tưởng giai đoạn tới sẽ có những doanh nghiệp thành công trên hướng đi này” – ông Sơn cho biết.

Nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

Tại Hội thảo, ông Nguyễn Trọng Hiệu – Cục phó Cục phát triển Doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết: Năm 2013, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập là 76.955 tăng 10,1% ; Vốn đăng ký là 398.681 tỷ giảm 14,7%. Có 61.000 doanh nghiệp dừng hoạt động, trong đó 10.000 giải thể và dừng hoạt động 51.000 tăng 11,9%.  Có 312,600 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hoạt động trong đó doanh nghiệp vừa là 6,837(2.2%), doanh nghiệp nhỏ chiếm 92,530(29.6%) và doanh nghiệp Micro là 213,233 (68.2%).

Nói về các khó khăn chính của DNNVV, ông Nguyễn Trọng Hiệu khẳng định: Trong năm 2013, DNNVV gặp nhiều khó khăn, trong đó đặc biệt phải kể đến là các khó khăn chính như: Khả năng tài chính và nguồn vốn hạn chế; Chất lượng nhân lực thấp; Thiếu sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp; Chịu ảnh hưởng, tác động của hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; Kỹ năng, năng lực quản trị kinh doanh hạn chế, yếu kém; Chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ và chưa đến được doanh nghiệp; Khó tiếp cận các nguồn lực sản xuất; Trình độ công nghệ thấp, Khả năng cạnh tranh yếu.

Ông Nguyễn Trọng Hiệu – Cục phó Cục phát triển Doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ông Hiệu cũng đưa ra một số chính sách nhằm trợ giúp phát triển DNNVV. Thứ nhất, phải hoàn thiện khung pháp lý, chính sách phát triển DNNVV. Nghiên cứu Đề án xây dựng Luật xúc tiến phát triển DNNVV năm 2014. Triển khai tích cực các Luật mới ban hành liên quan đến  hoạt động của doanh nghiệp nói chung, DNNVV nói riêng: Luật quản lý giá, Luật quảng cáo,… Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý liên quan đến doanh nghiệp như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế: cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; Luật sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư để bao quát được các hoạt động kinh tế mới phát sinh trong kinh tế; Luật đầu tư công, Luật đấu thầu ,…

Thứ hai, cần giúp DNNVV tiếp cận tài chính, tín dụng một cách nhanh nhất bằng việc: Quỹ Phát triển DNNVV và triển khai các hoạt động trợ giúp của Quỹ (2014); Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích NHTM tăng mức dự nợ tín dụng cho các DNNVV; Áp dụng Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ BLTD cho DNNVV; Đẩy mạnh triển khai Bảo Lãnh cho DNNVV vay vốn theo QĐ 03/2011/QĐ-TTg.

Diễn đàn thu hút sự tham dự của hơn 200 khách mời

Thứ ba, hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai cho DNNVV. Để làm được điều này cơ quan quản lý nhà nước cần phải Phê duyệt Đề án phát triển cụm công nghiệp liên kết, khu công nghiệp gắn với phát triển công hỗ trợ, tạo mạng liên kết sản xuất và hình thành chuỗi giá trị trong năm 2014; Xây dựng cơ chế hỗ trợ DNNVV thực hiện hệ thống kiểm toán môi trường và quản lý sinh thái; Xây dựng cơ chế hỗ trợ di dời các DNNVV gây ô nhiễm thông qua cho phép chuyển quyền sử dụng đất từ đất sản xuất sang đất ở và đất thương mại trong năm 2014…

Thứ tư, cần cung cấp thông tin hỗ trợ, xúc tiến mở rộng thị trường cho DNNVV. Cụ thể, cần phải hình thành mạng lưới hệ thống thông tin hỗ trợ DNNVV để cung cấp thông tin cho DNNVV; Tiếp tục nâng cấp cổng thông tin DN, hình thành mạng lưới kết nối thông tin trợ giúp DNNVV; Khuyến khích, hỗ trợ DNNVV tham gia Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia giai đoạn 2011-2015; Nghiên cứu quy định cho phép tỷ lệ nhất định DNNVV được tham gia cung cấp một số hàng hóa, dịch vụ công trình cho thị trường mua sắm công; Tăng cường triển khai áp dụng đấu thầu qua mạng để khuyến khích và tạo điều kiện tiếp cận thông tin cho DNNVV…

Cuối cùng, cần xây dựng hệ thống trợ giúp phát triển DNNVV thông qua việc đẩy nhanh phê duyệt Đề án tăng cường năng lực cho cơ quan đầu mối thực hiện chính sách phát triển DNNVV giai đoạn 2014-2015.

Triển vọng kinh tế thế giới

Bà Nguyễn Thị Hạnh Phúc – Giám đốc toàn quốc Khối khách hàng doanh nghiệp Bộ phận vốn và tiền tệ HSBC Việt Nam cho biết: Nền kinh tế Mỹ đang phục hồi mong manh. Thị trường nhà đất và lao động đang trên đà phục hồi nhưng các hộ gia đình vẫn tiếp tục giảm vay nợ. Tiêu dùng dịch vụ vẫn tăng trưởng chậm. Dự kiến, Fed sẽ tiếp tục cắt giảm 10 tỷ đô la mua trái phiếu sau mỗi phiên họp va kết thúc vào tháng 10/2014. Lãi suất Fed Fed Fund tiếp tục ở mức nay it nhất đến quý 3 – 2015. Tăng trưởng GDP khoảng 2% trong 2014, thấp hơn mức trung bình 3.2% trong 40 năm qua.

Bà Nguyễn Thị Hạnh Phúc – Giám đốc toàn quốc Khối khách hàng doanh nghiệp Bộ phận vốn và tiền tệ HSBC Việt Nam

Khu vực đồng tiền chung châu Âu đang có dấu hiệu ổn định tạm thời. Cụ thể, lời hứa của Draghi giúp ổn định thị trường. Tình hình kinh tế vẫn yếu nhưng đã ổn định hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi châu Âu lấy lại đà. Đó là làm cách nào để chấm dứt khủng khoảng trong ngắn hạn và khôi phục tâng trưởng trong trung hạn khi các nhà chính trị đang trì trệ và người dân đã chán ngán với các biện pháp thắt lưng buộc bụng. Câu trả lời là sử dụng các chính sách thắt chặt trong ngắn hạn và giải pháp trung hạn là củng cố tài khóa, cải tổ cơ cấu, xây dựng thể chế.

Khu vực châu Á tập trung vào chất lượng thay vì tốc độ tăng trưởng. Sau một khởi đầu tiềm năng, đà tăng trưởng đang chậm lại phản ánh tăng trưởng xuất khẩu trì trệ. Luồng vốn từ các nước Châu Âu đổ vào Châu Á, nhu cầu của Trung quốc trong 3 năm vừa qua cũng rất mạnh. Tuy nhiên năm 2013, Châu Á cũng bắt đầu gặp phải những lo lắng: thứ nhất Chủ tịch của Fed đã có dự định thu hẹp gói QE3 đã làm cho một số nước Châu Á như Ấn độ, Indonexia lao đao. Lượng hàng xuất khẩu Châu Á không phải nâng cao theo mong đợi. Tăng trưởng việc làm cũng chậm lại. Trung Quốc bước đầu ổn định sẽ hỗ trợ tăng trưởng. Tăng trưởng tín dụng đã đến đỉnh của chu kỳ Tín dụng ngân hàng đã tăng lên rất nhiều. Các doanh nghiệp tăng cường phát hành trái phiếu nợ. Các gia đình cũng vay nợ nhiều hơn. Mặt khác, chính sách nới lỏng của Nhật và phục hồi kinh tế toàn cầu sẽ thúc đẩy phát triển. Những năm gần đây, các doanh nghiệp Nhật Bản đã tích cực mở rộng đầu tư ở nước ngoài. FDI của Nhật tăng, điển hình Việt Nam trong 2 năm gần đây là nước có mức đầu tư FDI cao nhất. Đối với các nước ASEAN thì ưu tiên của Nhật vẫn là Thái Lan, Indonesia và Việt Nam.

Các vị khách mời chăm chú theo dõi Diễn đàn

Về định hướng chính sách để phát triển bên vững, bà Hạnh Phúc cho biết cần phát triển kinh tế dựa trên nới lỏng tiền tệ sẽ không bền vững. Chính sách tiền tệ và tài khóa sẽ bình thường hóa trong thời gian tới. Điều này có nghĩa là các chính sách sẽ không còn mang tính hỗ trợ phát triển nữa. Dòng vốn chảy vào sẽ ít đi. Sau khi Fed thu hẹp nới lỏng định lượng, Châu Á sẽ không còn nhận được nhiều dòng vốn như trước. Thay vào đó, các nước sẽ phải gấp rút cải tổ về cơ cấu để gia tăng năng suất và hiệu quả.

Trong quản trị tài chính, doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả trong kinh doanh về thị trương xuất khẩu. Chào bán hàng xuất khẩu bằng đồng tiền bản địa của đối tác nước ngoài và sử dụng các sản phẩm phòng chống rủi ro tỷ giá cho đồng tiền đó. Tận dụng vay lãi suất đô la đang ở mức thấp so với tỷ lệ trượt giá của tiền đồng. Cân nhắc hoán đổi lãi suất vay đô la dài hạn từ thả nổi sang cố định. Đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường và thay đổi chính sách.

Trong khuôn khổ diễn đàn, TS Đặng Văn Thanh – Chủ tịch Hội Kế toán, kiểm toán Việt Nam đã giới thiệu chương trình “Năng lực hoạt động Doanh nghiệp – Năng lực tài chính 2013”. Chương trình nằm trong khuôn khổ chương trình “Năng lực hoạt động Doanh nghiệp”, được tiến hành hàng năm bắt đầu từ năm 2013.

TS Đặng Văn Thanh – Chủ tịch Hội Kế toán, kiểm toán Việt Nam

Chương trình do Báo Diễn đàn Doanh nghiệp thuộc Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), Viện Nghiên cứu và Phát triển Doanh nghiệp (INBUS) thuộc Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT), Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA), Hội Doanh nhân Trẻ Việt Nam (VYEA), Hội các Nhà Quản trị Doanh nghiệp Việt Nam (VACD) cùng phối hợp triển khai góp phần trợ giúp phát triển doanh nghiệp một cách thiết thực và hữu hiệu.

Tại diễn đàn, ông Nguyễn Mạnh Quân – Viện trưởng Viện nghiên cứu và phát triển doanh nghiệpthay mặt hội đồng chủ biên, ra mắt báo cáo “Năng lực hoạt động Doanh nghiệp – Năng lực tài chính 2013”.

Ông Nguyễn Mạnh Quân – Viện trưởng Viện nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp

Báo cáo Tài chính Doanh nghiệp đã cung cấp thông tin về hoạt động và năng lực tài chính của các doanh nghiệp thông qua sáu nhóm chỉ số cơ bản: chỉ số thanh toán, chỉ số đòn bẩy tài chính, chỉ số lợi nhuận, hệ số sinh lời, hệ số bản toàn vốn và doanh số. Các chỉ số được tập hợp, xử lý từ các báo cáo tài chính (đã được kiểm toán) của các doanh nghiệp niêm yết và đại chúng và được quy ra các chỉ số theo cách tính phổ biến trong các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp. Việc so sánh giữa các doanh nghiệp cùng lĩnh vực và so sánh chéo được tạo thuận lợi bằng cách quy đổi thành điểm theo một thang điểm cơ sở chung cho từng chỉ số. Cách tính điểm có thể cung cấp cho người sử dụng thêm thông tin về khoảng cách tương đối giữa các doanh nghiệp trong nhóm doanh nghiệp so. Cách hiển thị bằng sơ đồ, đồ thị cung cấp cái nhìn trực quan nhằm tạo thuận lợi cho người sử dụng.

Do những hạn chế nhất định, Báo cáo năng lực hoạt động doanh nghiệp chỉ giới thiệu thông tin về năng lực tài chính của gần 500 doanh nghiệp lựa chọn từ gần 2.000 doanh nghiệp tham gia các sàn chứng khoán TP HCM (HSX), Hà Nội (HNX), Upcom và các doanh nghiệp đại chúng khác. Thông tin thêm về các doanh nghiệp khác có thể được tra cứu trên trang web: www.dddn.com.vn hoặc website của Viện Nghiên cứu và Phát triển doanh nghiệp (INBUS) http://www.inbus.vn.

Tại phiên thảo luận, đại diện một doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu chia sẻ rằng mấy năm vừa qua doanh nghiệp vẫn phải khó khăn rất nhiều trong sản xuất. Tuy nhiên, vượt qua những khó khăn hiện nay doanh nghiệp đang đầu tư một cách bài bản, nghiêm túc và hướng tới tương lai. Trong nội dung hôm nay, tôi thấy băn khoăn về lời khuyên cho các doanh nghiệp của ông Võ Trí Thành trong năm 2014 là vừa đầu tư lâu dài nhưng vẫn phải nên đầu cơ?

Trả lời câu hỏi này, ông Võ Trí Thành nhấn mạnh, “tôi nói rằng trong ngắn hạn nếu có cơ hội đầu cơ thì không dại gì không đầu cơ”. Tuy nhiên, khi đầu cơ chúng ta phải đảm bảo tính thanh khoản và phải tính toán hết rủi ro. Và bạn phải nhìn nhận rằng nếu xét về chính sách đầu cơ không phải lúc nào cũng là tồi, ví dụ như đầu tư trên thị trường chứng khoán thứ cấp.

Đại đa số các doanh nghiệp có mặt tại diễn đàn đã bày tỏ sự lo lắng của mình trước bối cảnh kinh cảnh kinh tế trong nước và thế giới như hiện nay. Nhiều vấn đề như chính sách tài chính, đầu tư công, tỷ giá… đã được các diễn giả trao đổi trực tiếp tại diễn đàn.

Sau gần 3 giờ đồng hồ làm việc nghiêm túc, Diễn đàn: Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp 2014 đã thành công tốt đẹp. Rất nhiều thông tin hữu ích cùng các giải pháp hỗ trợ phát triển dành nhằm tháo gỡ khó khăn, giúp doanh nghiệp kinh doanh phát triển trong thời gian tới đã được các nhà nghiên cứu, đại diện cơ quan nhà nước đưa ra, thảo luận tại diễn đàn. Phát biểu bế mạc chương trình, bà Phạm Thị Thu Hằng – Tổng Thư ký VCCI khẳng định: Kinh doanh là sáng tạo, nếu tự chúng ta không vận động trước thì rất khó để phát triển. Vì vậy, bên cạnh những chính sách, cơ chế của cơ quan quản lý, tự thân mỗi doanh nhân phải ra chủ động đưa ra quyết định của mình để có những giải pháp phát triển doanh nghiệp.

D.Hiền – N.Phương – B.Ngọc / Theo D Đ D N

bang gia o to

Free Ads sa`i go`n tiê´p thi? - khuyê´n ma~i - doanh nghiê?p

Bạn nên đọc

Kỳ công nghề nuôi trai ngọc

Những lồng bè nuôi trai cấy ngọc Ngọc trai là sản phẩm nổi tiếng nhất …

%d bloggers like this: